Luận văn Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với Báo cáo kiểm toán

pdf 89 trang vuhoa 24/08/2022 4960
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Luận văn Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với Báo cáo kiểm toán", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên.

File đính kèm:

  • pdfluan_van_trach_nhiem_phap_ly_cua_kiem_toan_vien_va_doanh_ngh.pdf

Nội dung text: Luận văn Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với Báo cáo kiểm toán

  1. 1 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM HỨA VIẾT MINH TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2020 1
  2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HCM HỨA VIẾT MINH TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN Chuyên ngành: Luật Kinh tế Mã số: 8380107 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN VÂN LONG M ỤC LỤC M ỤC LỤC 2 LỜI NÓI ĐẦU 1 Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2020
  3. LỜI CAM ĐOAN Tôi tên là Hứa Viết Minh, là học viên lớp Cao học Khóa 28_2_Luật kinh tế Bình Dƣơng, chuyên ngành Luật kinh tế, Khoa Luật, Trƣờng Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh, là tác giả của Luận văn Thạc sĩ Luật học với đề tài “Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán " (Sau đây gọi tắt là “Luận văn”). Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung đƣợc trình bày trong Luận văn này là kết quả nghiên cứu độc lập của cá nhân tôi dƣới sự hƣớng dẫn của ngƣời hƣớng dẫn khoa học. Trong Luận văn có sử dụng, trích dẫn một số ý kiến, quan điểm khoa học của một số tác giả. Các thông tin này đều đƣợc trích dẫn nguồn cụ thể, chính xác và có thể kiểm chứng. Các số liệu, thông tin đƣợc sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn khách quan và trung thực. Học viên thực hiện HỨA VIẾT MINH
  4. MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA LỜI CAM ĐOAN MỤC LỤC DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT DANH MỤC SƠ ĐỒ DANH MỤC CÁC BẢNG TÓM TẮT LUẬN VĂN ABSTRACT LỜI NÓI ĐẦU 1 1. Lý do chọn đề tài 1 2. Câu hỏi nghiên cứu: 2 3. Tổng quan về tình hình nghiên cứu: 2 4. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3 4.1 Mục đích nghiên cứu: 3 4.2 Đối tƣợng nghiên cứu: 3 4.3 Phạm vi nghiên cứu 3 5. Các phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu 4 6. Kết cấu dự kiến của Luận văn 4 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN 5 1.1 Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập. 5 1.1.1 Khái niệm 5 1.1.2. Những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập 7 1.1.3. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập 9 1.2 Doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 10 1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 11 1.2.2 Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán 11 1.2.3 Một số đặc điểm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán trên thế giới 13 1.3 Kiểm toán viên và trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và DN kiểm toán 15 1.3.1 Khái niệm và vai trò của kiểm toán viên 15
  5. 1.3.2 Trách nhiệm nghề nghiệp của kiểm toán viên 17 1.3.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán 20 1.4 Tham khảo một số kinh nghiệm về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở nƣớc khác 28 1.4.1 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Mỹ 28 1.4.2. Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên ở Anh 31 CHƢƠNG 2: TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN QUA THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG NGHỀ NGHIỆP 34 2.1. Tổng quan về thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập từ sau khi có Luật kiểm toán độc lập 2011 34 2.1.1. Tổng quan thực tiễn hoạt động kiểm toán độc lập 34 2.1.2. Những mặt đạt đƣợc 37 2.1.3. Những mặt hạn chế của hoạt động KTĐL hiện nay 39 2.2. Trách nhiệm pháp lý của tổ chức hành nghề kiểm toán qua vụ việc cụ thể 42 2.2.1. Trƣờng hợp KTV đã có sai phạm trong quá trình thực hiện kiểm toán 45 2.2.2. Trƣờng hợp KTV đã tuân thủ đúng các quy định của Chuẩn mực kiểm toán và quy định pháp luật về KTĐL. 49 2.3 Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên đối với báo cáo kiểm toán sai sót qua trƣờng hợp cụ thể 52 2.3.1. Trƣờng hợp BCKT sai do KTV có hành vi vi phạm quy định pháp luật kiểm toán hoặc chuẩn mực kiểm toán 55 2.3.2. Trƣờng hợp BCKT sai mặc dù KTV đã tuân thủ đúng chuẩn mực kiểm toán và quy định pháp luật 58 2.4. Phân định trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và tổ chức hành nghề: những vấn đề đặt ra 61 CHƢƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LIÊN QUAN ĐẾN TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN VÀ DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN 66 3.1. Định hƣớng hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT 66 3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán 67 3.3 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo thực thi có hiệu quả trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán 70 PHẦN KẾT LUẬN 76 DANH MỤC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
  6. DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT KTV : Kiểm toán viên DNKT : Doanh nghiệp kiểm toán BCKT : Báo cáo kiểm toán BCTC : Báo cáo tài chính KTĐL : Kiểm toán độc lập VACPA : Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam VSA : Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam DANH MỤC SƠ ĐỒ Sơ đồ 1.1 : Trách nhiệm dân sự trong hợp đồng của kiểm toán viên Sơ đồ 1.2 : Trách nhiệm dân sự ngoài hợp đồng của kiểm toán viên Sơ đồ 2.1 : Trách nhiệm pháp lý của DNKT đối với BCKT sai sót Sơ đồ 2.2 : Trách nhiệm pháp lý của KTV đối với BCKT sai sót DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng số 2.1 : Xếp hạng 10 DNKT lớn nhất theo doanh thu năm 2018 Bảng số 2.2 : Xếp hạng 10 DNKT lớn nhất theo số lƣợng NV năm 2018
  7. TÓM TẮT LUẬN VĂN Hoạt động kiểm toán độc lập là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho sự phát triển bền vững của thị trƣờng tài chính doanh nghiệp. Ở Việt Nam, mặc dù lĩnh vực kiểm toán độc lập mới có lịch sử hình thành khoảng 30 năm, nhƣng quy mô về doanh số và số lƣợng kiểm toán viên đã tăng lên nhanh chóng. Tuy nhiên thời gian gần đây đã xảy ra một số vụ “lùm xùm” về chất lƣợng kiểm toán làm cho công chúng rất lo ngại về độ tin cậy của báo cáo kiểm toán. Vậy vấn đề đặt ra là: Nếu báo cáo kiểm toán sai thì trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán sẽ nhƣ thế nào? Bằng luận văn của mình, tác giả đã đi sâu phân tích những mặt còn tồn tại của thực tiễn hoạt động kiểm toán ở Việt Nam và ảnh hƣởng của nó đến chất lƣợng báo cáo kiểm toán. Tác giả đƣa ra hai tình huống thực tế xảy ra để làm ví dụ sinh động cho vấn đề phân tích pháp luật. Dựa trên hệ thống quy định pháp luật hiện hành, luận văn phân tích trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán trên cả ba góc độ: trách nhiệm dân sự; trách nhiệm hành chính; trách nhiệm hình sự. Sau cùng, tác giả mạnh dạn đƣa ra một số đề xuất góp phần hoàn thiện vấn đề trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán. Kết quả nghiên cứu của luận văn hy vọng sẽ khơi gợi một số suy ngẫm cho các nhà làm luật để cân nhắc sửa đổi quy định pháp luật, đặc biệt là luật kiểm toán độc lập trong thời gian tới. TỪ KHÓA Trách nhiệm pháp lý; kiểm toán viên; doanh nghiệp kiểm toán; báo cáo kiểm toán; chất lƣợng kiểm toán
  8. ABSTRACT Independent auditing is an important factor to ensure the sustainable development of the corporate financial market. In Vietnam, although the new independent audit field has a history of about 30 years, the size of the sales and the number of auditors has increased rapidly. However, recently there have been some "scandals" about the quality of the audit, which makes the public very concerned about the audit reports. So the issue is: If the audit report is wrong, what will the legal responsibilities of auditors and auditing firms be? In his thesis, the author has in depth analyzed the outstanding aspects of audit practice in Vietnam and its impact on the quality of audit reports. The author gives two actual situations to create vivid examples for legal analysis. Based on the current legal system, the thesis analyzes the legal responsibilities of auditors and auditing firms on all three aspects: civil liability; administrative liability; criminal liability. Finally, the author makes a number of proposals that contribute to the completion of the liability of auditors and auditing firms for audit reports. The research results of the thesis hope to provoke some suggestion for lawmakers to consider amending the legal regulations, especially the independent audit law in the coming time. KEY WORD Legal liability; auditor; auditing firm; audit report; audit quality
  9. 1 LỜI NÓI ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Trong nền kinh tế thị trƣờng đang phát triển hiện nay ở Việt Nam, thị trƣờng chứng khoán ngày càng đóng vai trò là kênh huy động vốn quan trọng. Nhằm cung cấp thông tin tài chính tin cậy cho các nhà đầu tƣ vốn vào các doanh nghiệp nói chung và các công ty cổ phần trên sàn giao dịch chứng khoán nói riêng, hoạt động kiểm toán độc lập đóng vai trò quan trọng làm gia tăng mức độ tin cậy đối với báo cáo tài chính của doanh nghiệp. Dựa vào báo cáo kiểm toán mà các nhà đầu tƣ có cái nhìn trung thực, khách quan về tình hình tài chính của doanh nghiệp để đƣa ra quyết định đầu tƣ sáng suốt hơn. Bên cạnh đó, trong quá trình kiểm toán các kiểm toán viên cũng đƣa ra khuyến nghị giúp cho khách hàng nâng cao hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và cảnh báo khách hàng về rủi ro tài chính có thể đối mặt. Tuy nhiên cũng phải thẳng thắn nhìn nhận rằng chất lƣợng của dịch vụ kiểm toán độc lập trong thời gian gần đây chƣa đáp ứng đƣợc kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh tế. Dƣ luận không khỏi băn khoăn khi có những trƣờng hợp báo cáo tài chính đã đƣợc kiểm toán nhƣng vẫn còn sai sót trọng yếu, gây thiệt hại nghiêm trọng cho nhà đầu tƣ. Ví dụ điển hình nhƣ: Công ty TNHH Kiểm toán DFK kiểm toán BCTC năm 2015 của Công ty CP Tập Đoàn Kỹ Nghễ Gỗ Trƣờng Thành. DFK đã phát hành báo cáo kiểm toán chấp nhận toàn phần BCTC của khách hàng. Nhƣng đơn vị kiểm toán năm sau lại phát hiện số liệu BCTC có sai sót thiếu hụt 980 tỷ tiền hàng tồn kho. Đây là một sai sót cực kỳ nghiêm trọng của kiểm toán viên. Nó gây ảnh hƣởng lớn đến quyết định đầu tƣ và lợi ích của các cổ đông công ty Gỗ Trƣờng Thành. Vậy trƣờng hợp báo cáo kiểm toán (BCKT) mà có sai sót gây ảnh hƣởng nghiêm trọng đến lợi ích bên liên quan thì các kiểm toán viên (KTV) và doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) phải chịu trách nhiệm pháp lý nhƣ thế nào? Các bên bị thiệt hại khi sử dụng kết quả kiểm toán sai có thể khởi kiện các KTV và DNKT hay không? KTV và DNKT cần phải đối phó nhƣ thế nào khi bị bên thứ ba kiện ra Tòa đòi bồi thƣờng vì thiệt hại khi sử dụng BCKT sai sót? Kinh nghiệm của các nƣớc trên thế giới quy định về vấn đề này nhƣ thế nào? Phân tích nhằm làm rõ và nâng cao trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT, cũng đồng thời là nâng cao uy tín của ngành kiểm toán độc lập bối cảnh kinh tế thị trƣờng ngày càng cạnh tranh khốc liệt ở nƣớc ta hiện nay.
  10. 2 Là một kiểm toán viên và đang theo học Thạc sĩ chuyên ngành Luật kinh tế, tác giả nhận thức đƣợc rõ tầm quan trọng của vấn đề này dƣới cả góc độ lý luận và thực tiễn. Do vậy tác giả đã mạnh dạn chọn đề tài “Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán” làm đề tài cho Luận văn Thạc sĩ của mình. 2. Câu hỏi nghiên cứu: Luận văn đƣợc thực hiện với mục tiêu nhằm làm rõ các câu hỏi nghiên cứu nhƣ sau: Thứ nhất: Cơ sở lý luận về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT nhƣ thế nào? Thứ hai: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT có gì bất cập? Thứ ba: Có thể sửa đổi quy định pháp luật nhƣ thế nào để góp phần hoàn thiện về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT? 3. Tổng quan về tình hình nghiên cứu: Cho đến nay, vấn đề về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT vẫn còn là vấn đề còn khá mới mẻ và và thách thức nghiên cứu ở cấp luận văn thạc sĩ. Có một số tác giả đã nghiên cứu chủ đề liên quan về kiểm toán nhƣ: Tác giả Nguyễn Thị Khuyên (2014) đã có luận văn thạc sĩ nghiên cứu về “Pháp luật về dịch vụ kiểm toán độc lập ở Việt Nam”. Luận văn nghiên cứu về tổng thể các quy định pháp luật về hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam. Trong đó, luận văn chỉ đề cập rất sơ bộ về trách nhiệm của kiểm toán viên dƣới góc độ Luật kiểm toán độc lập. Tác giả Nguyễn Ngọc Khánh Dung (2015) đã có luận án tiến sĩ nghiên cứu về “Nghiên cứu khoảng cách kỳ vọng kiểm toán: trách nhiệm kiểm toán viên trong kiểm toán BCTC ở Việt Nam”. Đề tài có đề cập đến trách nhiệm của KTV nhƣng đứng trên góc độ đòi hỏi nghề nghiệp kiểm toán, không đi sâu vào phân tích về trách nhiệm pháp lý. Tác giả Lê Thị Thu Hà (2019) có bài viết về “Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên”, trong đó tác giả có chia sẻ thông tin tham khảo về vấn đề này ở một số nƣớc trên thế giới. Tuy nhiên bài viết có nội dung khá ngắn gọn trong phạm vi 06
  11. 3 trang A4, và tác giả không đề cập đến vấn đề trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp kiểm toán, vốn dĩ là chủ thể luôn gắn liền với kiểm toán viên trong hoạt động kiểm toán. Nhƣ vậy có thể nói đã có một số luận văn hoặc bài viết nghiên cứu về pháp luật trong lĩnh vực kiểm toán nói chung và kiểm toán viên nói riêng. Mỗi một công trình nghiên cứu một góc độ khác nhau về pháp luât trong lĩnh vực kiểm toán. Tuy nhiên chƣa có một tác phẩm nào nghiên cứu chuyên sâu về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. Trong luận văn của mình, tác giả đi sâu vào phân tích từ cơ sở lý luận, quy định pháp luật thực tiễn có những ƣu điểm và còn những tồn tại gì, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT trong bối cảnh ở Việt Nam hiện nay. 4. Mục đích, đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 4.1 Mục đích nghiên cứu: Mục đích của luận văn là nghiên cứu, phân tích cơ sở lý luận cũng nhƣ thực tiễn trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. Từ đó luận văn đƣa ra một số đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật và thực thi pháp luật đối với vấn đề trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. 4.2 Đối tƣợng nghiên cứu: Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề về lý luận và thực tiễn quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. Những giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT. 4.3 Phạm vi nghiên cứu - Về không gian: Nghiên cứu về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT đối với BCKT trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Hoạt động kiểm toán đƣợc giới hạn trong lĩnh vực kiểm toán độc lập, không bao gồm các loại hình kiểm toán khác nhƣ kiểm toán nhà nƣớc, kiểm toán nội bộ. - Về thời gian: Phân tích, đánh giá thực trạng về quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kiểm toán độc lập trong giai đoạn từ sau khi luật kiểm toán độc lập đƣợc ban hành năm 2011 cho đến nay.
  12. 4 5. Các phƣơng pháp tiến hành nghiên cứu Luận văn có sử dụng một số phƣơng pháp nghiên cứu cụ thể nhƣ sau: Chương 1: Đề cập đến lý luận chung về hoạt động kiểm toán độc lập và trách nhiệm pháp lý của KTV & DNKT. Do vậy luận văn chủ yếu phƣơng pháp phân tích, phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp so sánh để làm rõ các khái niệm chung trong lĩnh vực đặc thù kiểm toán và trách nhiệm pháp lý của KTV, DNKT Chương 2: Đề cập đến hai khía cạnh trong thực tiễn là pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật liên quan đến trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT. Trong chƣơng này, tác giả sử dụng các phƣơng pháp phân tích , phƣơng pháp so sánh, phƣơng pháp tổng hợp để làm rõ những điểm còn bất cập trong thực tiễn. Chương 3: Đề cập đến định hƣớng, giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT. Trong chƣơng này luận văn sử dụng phƣơng pháp tổng hợp, phƣơng pháp logic để hình thành các đề xuất cải thiện quy định pháp luật về trách nhiệm pháp lý của KTV và DNKT 6. Kết cấu dự kiến của Luận văn Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm ba chƣơng nhƣ sau: Chương 1: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán đối với báo cáo kiểm toán Chương 2: Trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán qua hoạt động thực tiễn. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật liên quan đến trách nhiệm pháp lý của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán.
  13. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM PHÁP LÝ CỦA KIỂM TOÁN VIÊN & DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN ĐỐI VỚI BÁO CÁO KIỂM TOÁN 1.1 Khái quát về kiểm toán và kiểm toán độc lập. 1.1.1 Khái niệm Có thể nói hoạt động kiểm toán đã hình thành từ thời Ai Cập, La Mã cổ đại. Nguồn gốc từ xa xƣa của kiểm toán (audit) nghĩa là thông tin đƣợc phê chuẩn bằng cách các tài khoản về tài sản đƣợc đọc to lên và đƣợc một bên độc lập phê chuẩn. Trong thời kỳ Trung cổ, hoạt động kiểm toán chủ yếu là thẩm tra độ chính xác của thông tin tài chính đƣợc thực hiện bởi các kiểm toán viên của Nhà nƣớc. Sau này đến thế kỷ 18, các công ty cổ phần ra đời và phát triển cùng với sự hình thành của thị trƣờng chứng khoán. Từ đó xuất hiện nhu cầu của chủ sở hữu cổ phần muốn kiểm tra tài chính nhằm tránh gian lận của ngƣời quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán đƣợc ra đời phục vụ chủ yếu cho mục đích này.2 Hiện nay tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về hoạt động kiểm toán: Theo định nghĩa của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì “hoạt động kiểm toán là việc kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến của mình về báo cáo tài chính”2 Các chuyên gia trong lĩnh vực kiểm toán đƣa ra định nghĩa khá bao quát về kiểm toán nhƣ sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các kiểm toán viên đủ năng lực và độc lập”3 Họat động kiểm toán có nhiều hình thức khác nhau. Nếu phân loại kiểm toán theo chủ thể thực hiện, kiểm toán đƣợc chia thành ba loại hình nhƣ sau: ● Kiểm toán nhà nƣớc Là hoạt động kiểm toán do các cơ quan chức năng của nhà nƣớc tiến hành để kiểm tra sự tuân thủ quy định pháp luật về tài chính của đơn vị đƣợc kiểm tra (có sử dụng vốn 2 Nguyễn Thị Khuyên, Luận văn Thạc Sĩ Luật, Hà Nội, 2014, tr 5 3 Trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 23
  14. 6 của Ngân sách nhà nƣớc). Chủ thể tiến hành kiểm tra có thể là: Kiểm toán nhà nƣớc, Thanh tra nhà nƣớc, Thanh tra tài chính chuyên ngành v.v Ở Việt Nam, Cơ quan Kiểm toán nhà nƣớc là cơ quan kiểm toán cấp cao nhất, trực thuộc Quốc hội. Cơ quan này kiểm tra việc thực hiện ngân sách, quản lý sử dụng tài sản công. ● Kiểm toán nội bộ Là việc kiểm toán trong nội bộ doanh nghiệp theo yêu cầu của Ban quản trị hay Ban quản lý doanh nghiệp. Kiểm toán nội bộ do nhân viên của đơn vị tự thực hiện kiểm tra, đánh giá về các quy trình quản trị tài chính, quản lý rủi ro trong đơn vị mình. Mục tiêu của kiểm toán nội bộ thƣờng là sự hiệu quả và hữu hiệu của quy trình quản trị doanh nghiệp, phòng ngừa rủi ro, đánh giá việc thực hiện kế hoach của đơn vị. ● Kiểm toán độc lập Là hoạt động kiểm toán đƣợc tiến hành bởi các kiểm toán viên thuộc các doanh nghiệp kiểm toán độc lập. Theo Luật kiểm toán độc lập 2011 thì “KTĐL là việc KTV hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính (BCTC) và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”4 Ở Việt Nam hoạt động KTĐL xuất hiện từ đầu những năm 1990, vài năm sau khi nƣớc ta chuyển đổi sang nền kinh tế thị trƣờng với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đặc biệt là khu vực doanh nghiệp nƣớc ngoài phát triển nhanh chóng kéo theo nhu cầu dịch vụ KTĐL về báo cáo tài chính. Tháng 5/1991 đánh dấu mốc hình thành một công ty KTĐL đầu tiên ở Việt Nam là Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO). Sau đó các công ty kiểm toán cũng dần hình thành và phát triển. Vào năm 2011 Luật kiểm toán độc lập ra đời, đánh dấu một bƣớc phát triển quan trọng về mặt pháp lý cho hoạt động KTĐL và chấm dứt một thời kỳ dài thiếu một luật chuyên ngành điều chỉnh hoạt động KTĐL. Hiện nay có khoảng 160 doanh nghiệp kiểm toán với hơn 11 ngàn nhân viên đang hoạt động trong lĩnh vực KTĐL trên phạm vi toàn quốc. 5 4 Khoản 1 điều 5 luật Kiểm toán độc lập 2011 5 Trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 29
  15. 7 Các doanh nghiệp kiểm toán (DNKT) cung cấp các dịch vụ kiểm toán BCTC, soát xét thông tin theo thỏa thuận, tƣ vấn thuế và các dịch vụ khác có liên quan đến chuyên môn v.v Trong đó dịch vụ kiểm toán BCTC thƣờng chiếm tỷ trọng doanh thu và nhân sự lớn nhất. Kiểm toán báo cáo tài chính (còn gọi tắt là kiểm toán tài chính) của khách hàng là việc kiểm tra nhằm đƣa ra ý kiến về tính hợp lý và trung thực về BCTC của khách hàng, dựa trên các tiêu chuẩn là chế độ kế toán, chuẩn mực Hiện nay hiểu theo nghĩa thông dụng thì thuật ngữ “kiểm toán” tức là kiểm toán báo cáo tài chính của khách hàng. Do vậy, trong phạm vi bài luận văn này, tác giả cần lƣu ý thuật ngữ “kiểm toán” hay “kiểm toán độc lập” đề cập đến hoạt động kiểm toán BCTC của doanh nghiệp. Đây là dịch vụ mang tính điển hình và quan trọng nhất của các doanh nghiệp KTĐL hiện nay. Căn cứ theo điều 37 của Luật kiểm toán độc lập 2011, một số loại hình doanh nghiệp có ảnh hƣởng quan trọng đến lợi ích công chúng thì bắt buộc phải kiểm toán BCTC hàng năm, bao gồm: tổ chức tín dụng, doanh nghiệp bảo hiểm, công ty đại chúng, doanh nghiệp nhà nƣớc, doanh nghiệp kiểm toán, doanh nghiệp nƣớc ngoài v.v 1.1.2. Những mục tiêu và nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập 1.1.2.1. Mục tiêu của kiểm toán độc lập: KTĐL (hay còn gọi là kiểm toán BCTC) nhằm tăng độ tin cậy của ngƣời sử dụng báo cáo tài chính. Mục tiêu của cuộc kiểm toán là “Đạt được sự bảo đảm hợp lý rằng liệu BCTC, xét trên phương diện tổng thể, có còn sai sót trọng yếu do gian lận hoặc nhầm lẫn hay không, từ đó giúp kiểm toán viên đưa ra ý kiến liệu BCTC có được lập phù hợp với khuôn khổ về lập và trình bày BCTC được áp dụng dựa trên khía cạnh trọng yếu hay không”6 Do đặc thù của lĩnh vực kiểm toán nên mục tiêu của kiểm toán là phát hiện các sai sót có tính trọng yếu chứ không phải tất cả các sai sót. Tùy vào xét đoán của KTV mà họ sẽ đặt ra mức trọng yếu khác nhau khi tiến hành kiểm toán tại khách hàng. “Mức trọng yếu thông thường được tính dựa trên 0,5%-1% doanh thu; 5%-10% lợi nhuận, 1%-2% tổng tài sản”.7 6 Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 200), đoạn 3 7 Nguyễn Thị Nên, 2018. Xác định quy mô tính trọng yếu trong kiểm toán BCTC. Tạp chí Tài Chính, số 7/2018, tr. 3
  16. 8 Mặt khác, cuộc kiểm toán chỉ cung cấp mức độ bảo đảm hợp lý, chứ không bảo đảm tuyệt đối là báo cáo tài chính không còn nhƣng sai sót trọng yếu vì lý do luôn tồn tại một số mặt hạn chế vốn có của hoạt động kiểm toán nhƣ sau: Một là việc lập, trình bày BCTC đòi hỏi những xét đoán của đơn vị phù hợp với đặc điểm hoạt động kinh doanh thực tế. Có những nghiệp vụ kế toán mang tính nhận định chủ quan không chắc chắn tuyệt đối nhƣ: ƣớc tính khấu hao, dự phòng Do vậy mà không có gì ngạc nhiên khi đƣa một bộ chứng từ phát sinh của doanh nghiệp cho ba nhân viên để hạch toán, họ có thể lập ra ba bộ BCTC với kết quả khác nhau (tất nhiên là mức khác biệt không nhiều). Hai là khi tiến hành các thủ tục kiểm toán, có thể các bằng chứng kiểm toán bị giới hạn bởi các lý do nhƣ: Khách hàng cung cấp thông tin hoặc tài liệu không đầy đủ; Hành vi gian lận đƣợc che dấu kỹ; KVT không phải là cán bộ điều tra hay thanh tra viên của cơ quan nhà nƣớc nên không đƣợc thẩm quyền điều tra, xét hỏi nhƣ cơ quan công quyền. Đặc điểm hạn chế vốn có này ảnh hƣởng rất lớn đến sự thừa nhận về giới hạn trách nhiệm của KTV đối với kết quả của báo cáo kiểm toán. Kết quả sau cùng của một cuộc kiểm toán là Báo cáo kiểm toán đƣợc ký xác nhận bởi kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán. Báo cáo kiểm toán chính là ý kiến chính thức của kiểm toán viên về BCTC của đơn vị đƣợc kiểm toán. 1.1.2.2. Những nguyên tắc cơ bản của kiểm toán độc lập Để cuộc kiểm toán đạt đƣợc mục tiêu đề ra, theo quy định tại Điều 8 của Luật kiểm toán độc lập 2011, hoạt động KTĐL cần phải tuân theo một số nguyên tắc cơ bản nhƣ sau: ● Thứ nhất, hoạt động kiểm toán cần tuân thủ các pháp luật chuyên ngành về KTĐL nhƣ Luật kiểm toán độc lập, các Nghị định, Thông tƣ hƣớng dẫn Luật kiểm toán độc lập. Bên cạnh pháp luật chuyên ngành, một số luật khác cũng có thể có quy định về hoạt động kiểm toán nhƣ Luật chứng khoán, Luật doanh nghiệp v.v ● Thứ hai, hoạt động kiểm toán thực hiện trong khuôn khổ của chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, bao gồm chuẩn mực đạo đức và chuẩn mực chuyên môn. Mặc dù không phải là Luật, song các chuẩn mực nghề nghiệp rất cần thiết để hƣớng dẫn chi tiết các thủ tục kiểm toán mà không đƣợc quy định ở cấp độ Luật. Ở các nƣớc, chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán thƣờng là do Hội nghề nghiệp ban hành. Trong khi đó ở Việt Nam, các chuẩn mực này đƣợc ban hành dƣới dạng Thông tƣ của Bộ Tài chính.
  17. 9 ● Thứ ba, hoạt động kiểm toán phải bảo đảm tính độc lập, trung thực, khách quan. Ba yêu cầu này này đƣợc coi nhƣ tôn chỉ của nghề nghiệp KTĐL. Trong đó, nguyên tắc độc lập của của hoạt động kiểm toán là yêu cầu quan trọng nhất và phản ánh ở tên gọi của kiểm toán “độc lập”. Nó đòi hỏi hoạt động kiểm toán phải độc lập cả về nội dung (cách thức tiến hành) và về hình thức (mối quan hệ) đối với đơn vị đƣợc kiểm toán. Thiếu đi tính độc lập, các KTV khó mà có thể đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu cuộc kiểm toán. ● Thứ tư, hoạt động kiểm toán phải giữ bí mật thông tin của khách hàng. Nguyên tắc này luôn đƣợc ghi nhận trong hợp đồng kiểm toán nhƣ một sự mặc định. Thông tin đƣợc cung cấp cho KTV là vấn đề rất quan trọng, nhạy cảm với khách hàng. Do vậy ngay cả khi không đề cập trong hợp đồng thì quy tắc đạo đức nghề nghiệp cũng yêu cầu kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán phải bảo mật thông tin khách hàng. 1.1.3. Cơ sở pháp lý điều chỉnh hoạt động kiểm toán độc lập Sau khi Việt Nam mở cửa phát triển nền kinh tế thị trƣờng với nhiều thành phần kinh tế từ cuối những năm 1980, dịch vụ KTĐL bắt đầu hình thành và phát triển. Khách hàng có nhu cầu về dịch vụ kiểm toán ngày càng đa dạng nhƣ các doanh nghiệp đầu tƣ nƣớc ngoài, ngân hàng thƣơng mại, doanh nghiệp có vốn nhà nƣớc, công ty cổ phần đại chúng Do vậy, Nhà nƣớc cũng đã dần ban hành có quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động KTĐL. Khởi điểm đầu tiên phải kể đến là Nghị định 07/CP của Chính Phủ ban hành ngày 19/01/1994 và Thông tƣ 22/TC/CĐKT của Bộ Tài Chính ban hành ngày vào hai tháng sau đó. Đây là những văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên về Quy chế KTĐL. Mƣời năm sau đó, Chính phủ và Bộ Tài chính đã lần lƣợt ban hành Nghị định 105/2004/NĐ-CP (ngày 30/03/2004) và Thông tƣ 64/2004/TT-BTC (ngày 29/06/2004) để thay thế cho Nghị định 07/CP và Thông tƣ 22/TC/CĐKT nêu trên để đáp ứng với thực tiễn về hoạt động của KTĐL. Cho đến nay, hoạt động KTĐL đã có khuôn khổ pháp lý điều chỉnh hoàn thiện hơn khá nhiều so với trƣớc đây. Đó là các luật, các nghị định, thông tƣ hƣớng dẫn và chuẩn mực nghề nghiệp kiểm toán, bao gồm: ● Thứ nhất là những quy định mang tính pháp lý là những quy định bắt buộc của Nhà nƣớc đƣợc quy định bởi các văn bản pháp luật nhƣ: Luật, Nghị định, Thông tƣ liên quan để bảo đảm việc quản lý thống nhất nhà nƣớc trong lĩnh vực KTĐL trên toàn bộ quốc gia. Các văn bản quy phạm pháp luật đang có hiệu lực hiện hành bao gồm: Luât KTĐL số 67/2011/QH12 đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/03/2011. Có thể nói đây là khung pháp lý cao nhất về hoạt động KTĐL ở Việt Nam. Bên cạnh đó còn có
  18. 10 một số văn bản quy phạm pháp luật dƣới luật nhƣ: Nghị định 17/2012/NĐ-CP hƣớng dẫn chi tiết Luật kiểm toán độc lập; Nghị định 151/2018/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 17/2012/NĐ-CP; Nghị định 84/2016/NĐ-CP về tiêu chuẩn KTV hành nghề, DNKT đƣợc phép kiểm toán cho các tổ chức có lợi ích công chúng; Nghị định 41/2018/NĐ-CP quy định về xử phạt thuộc lĩnh vực KTĐL Thông tƣ 203/2012/TT-BTC quy định về thủ tục kinh doanh dịch vụ kiểm toán; Thông tƣ số 214/2012/TT-BTC quy định về hệ thống chuẩn mực kiểm toán; Thông tƣ 183/2013/TT-BTC về KTĐL đối với doanh nghiệp có lợi ích công chúng; Thông tƣ số 157/2014/TT-BTC quy định về kiểm toán chất lƣợng dịch vụ KTĐL; Thông tƣ số 91/2017/TT-BTC quy định về việc thi, cấp chứng chỉ KTV; Thông tƣ số 202/2012/TT- BTC quy định về đăng ký hành nghề kiểm toán. ● Thứ hai là những quy định mang tính chuẩn mực nghề nghiệp về hoạt động KTĐL, hay còn gọi là Chuẩn mực kiểm toán. Về cơ bản thì chuẩn mực kiểm toán là những quy định chuyên môn về thủ tục, trình tự KTĐL, đạo đức nghề nghiệp mà KTV và DNKT phải tuân thủ Vì lý do đặc thù của công việc kiểm toán khá phức tạp, nên chuẩn mực kiểm toán là yêu cầu tất yếu để làm cho ngƣời sử dụng BCTC an tâm hơn với chất lƣợng báo cáo kiểm toán. Ở nhiều nƣớc trên thế giới, chuẩn mực kiểm toán do hội nghề nghiệp kiểm toán ban hành. Chuẩn mực kiểm toán lần lƣợt đƣợc ban hành ở các nƣớc nhƣ Mỹ (1948), Đức (1964), Pháp (1971), Anh (1980) Tổ chức Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng cho ban hành chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA) và các nƣớc là thành viên của IFAC (hiện có gần 90 nƣớc) áp dụng ISA nhƣ là chuẩn mực kiểm toán của quốc gia mình. Vào năm 1999, Việt Nam ban hành các chuẩn mực kiểm toán đầu tiên. Bộ Tài Chính là cơ quan nhà nƣớc có trách nhiệm ban hành chuẩn mực kiểm toán Việt Nam (Vietnam Standard of Auditing-VSA). Các chuẩn mực này đƣợc ban hành dƣới dạng Thông tƣ. Hiện tại Việt Nam có tổng cộng 47 chuẩn mực kiểm toán hiện đang có hiệu lực, đƣợc ban hành trong sáu Thông tƣ của Bộ Tài Chính. “Hệ thống VSA dần đƣợc sửa đổi bổ sung để tiệm cận với chuẩn mực kiểm toán quốc tế. Đây là một bƣớc phát triển hành lang pháp lý để hoạt động KTĐL phát triển, giúp các KTV hành nghề thuận lợi và chuyên nghiệp hơn”.8 1.2 Doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán 8 Trƣờng Đại Học Kinh Tế TP.HCM, Giáo trình Kiểm Toán, Nxb Lao động, TP.HCM, 2019, tr 45
  19. 11 1.2.1 Khái niệm về doanh nghiệp kiểm toán và tổ chức nghề nghiệp kiểm toán Tham chiếu quy định tại khoản khoản 5, điều 5 Luật kiểm toán độc lập 2011 thì khái niệm doanh nghiệp kiểm toán đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Doanh nghiệp kiểm toán là doanh nghiệp có đủ điều kiện để kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan”9 Nhƣ vậy có thể thấy DNKT trƣớc hết có đặc điểm cũng nhƣ một doanh nghiệp thông thƣờng, thành lập và hoạt động theo sự điều tiết của Luật doanh nghiệp. DNKT là một tổ chức kinh tế thông thƣờng có tên gọi riêng, có tài sản, trụ sở giao dịch ổn định, đƣợc đăng ký để thực hiện kinh doanh. Tuy nhiên điểm đặc thù của doanh nghiệp kiểm toán để phân biệt với các doanh nghiệp thông thƣờng khác, là đƣợc thực hiện chức năng hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ kiểm toán độc lập và các dịch vụ có liên quan. Doanh nghiệp không đủ điều kiện doanh trong lĩnh vực kiểm toán thì trong tên gọi của doanh nghiệp không đƣợc phép dùng cụm từ “kiểm toán” trong tên gọi của tổ chức mình. Cũng tƣơng tự nhƣ các loại hình tổ chức nghề nghiệp khác, tổ chức nghề nghiệp kiểm toán là tổ chức xã hội nghề nghiệp của các doanh nghiệp kiểm toán, các kiểm toán viên hành nghề. Ở Việt Nam, tổ chức nghề nghiệp kiểm toán là Hội kiểm toán viên hành nghề Việt Nam, gọi tắt là VACPA. Tổ chức này đƣợc chính thức thành lập vào tháng 4/2005 và chịu sự quản lý nghề nghiệp bởi Cơ quan quản lý Nhà nƣớc là Bộ Tài Chính. Mục đích của VACPA là đoàn kết và tập hợp những ngƣời hành nghề KTV để nâng cao uy tín và chất lƣợng của hoạt động KTĐL. Ngoài ra, VACPA cũng góp phần mở rộng quan hệ hợp tác và hội nhập với các nƣớc trong lĩnh vực KTĐL. 1.2.2 Hình thức tổ chức hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán Doanh nghiệp kiểm toán ở Việt Nam chỉ đƣợc phép thành lập và hoạt động dƣới ba hình thức: “Doanh nghiệp tư nhân; Công ty trách nhiệm hai thành viên trở lên; Công ty hợp danh”10. DNKT không đƣợc góp vốn nhằm mục đích thành lập DNKT khác, trừ trƣờng hợp DNKT trong nƣớc góp vốn với DNKT nƣớc ngoài để thành lập một DNKT mới. 9 Khoản 5 điều 5 Luật kiểm toán độc lập 2011 10 Điều 20 Luật kiểm toán độc lập 2011